Nghi thức vào chùa

Nghi thức vào chùa. Chùa là nơi thờ Phật, bắt nguồn từ chữ Thù pa (tiếng Pali) hay là Stupa (tiếng Sansrit). Ấn Độ. Chùa gắn liền với đời sống văn hóa và tinh thần của người Việt, được phát triển theo thời gian và phân hóa theo không gian. Chùa Việt Nam có chùa làng và chùa nước.nghi-thuc-vao-chua
Chùa nước thường là những ngôi chùa có lịch sử hình thành và phát triển sớm, có vị trí về phong thủy và phong cảnh đẹp, có quy mô lớn, có giá trị về văn hóa lịch sử tôn giáo và và thường là nơi tu hành của những tăng, ni Phật tử. Chùa làng thường có quy mô nhỏ hơn và là nơi sinh hoạt tâm linh trong làng. Vì vậy, những ngôi chùa thường là những điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách và nhiều tín đồ đến chiêm bái. Theo phong tục cổ truyền người Việt trong các ngày rằm, mồng một, ngày lễ tết… cùng những ngày có việc quan trọng thường đến Chùa lễ Phật với tấm lòng thành kính nhờ thần lực vô biên của Phật, Chư Bồ Tát , các bậc Thánh Hiền mà được thiện duyên, giác ngộ, mong tâm được thanh tịnh, đạo được mở mang, tai qua nạn khỏi, cuộc sống ấm no hạnh phúc.. ước vọng chính đáng ấy được thể hiện khi chúng ta đến trước điện đài của Phật. Ngôi chùa Việt không những là một kiến trúc tôn giáo biểu hiện cho Phật giáo, tín ngưỡng Việt mà còn mang trong mình biết bao trầm tích của nghệ thuật cùng những giá trị văn hóa của người Việt. Do đó khi tham gia vào các nghi lễ thờ cúng tại chùa cần lưu ý một số vấn đề sau: Các hạng mục tham quan và lễ trong Chùa. Chùa là nơi thanh tịnh và là nơi tu hành của các vị cao tăng nên khi vào chùa du khách phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định về ứng xử văn hóa như sau: – Về trang phục: Khi vào chùa cần mặc quần áo dài, kín cổ, đi khẽ. Tránh mặc áo ngắn tay, áo sát nách, áo may ô, quần soóc, váy ngắn,… Đối với Phật tử thì phải mặc áo lễ khi đến điện thờ Phật trong chùa.

– Về xưng hô: Với nhà sư thì xưng là A di đà Phật, bạch Thầy,… và xưng mình là Con. Xưng hô như vậy tức là nhìn thấy tăng mà tưởng nhớ thầy Thích Ca Mâu Ni, mình xưng hô như vậy là đang xưng hô với Đức Thích Ca. Nếu nhà sư đó là Thầy hướng dẫn mình tu tập thì xưng hô là Thầy thì ngoài ý nghĩa trên còn mang nghĩa là Thầy dạy học đạo. Khi thưa gửi gì với nhà sư thì đều chắp tay hình búp sen.

– Về trình tự vào chùa:

+ Khi đi qua cổng Tam quan vào chùa nên đi vào cửa Giả quan ( bên phải) và đi ra bằng cửa Không quan (bên trái). Cửa Trung quan chỉ dành cho Thiên tử, bậc cao tăng, bậc khoa bảng đi vào chùa, và đi ra cũng theo cửa này. Sau đó du khách có thể gặp sư trụ trì, sở dĩ là vì Chùa do sư trụ trì cai quản, có sư, tăng – ni, chùa mới được giữ gìn và Đạo Phật mới được truyền lưu nên khi vào chùa phải theo lệ: “Nhập gia vấn chủ, nhập tự kiến sư Tiên vấn trụ trì, hậu lễ Tam bảo”. Nghĩa là: “Vào nhà hỏi chủ, đến chùa gặp sư. Trước thăm trụ trì, sau lễ Tam bảo”. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta cũng không hoàn toàn là làm bước này khi đến chùa. Sau khi, vấn đáp sư trụ trì, du khách tới nhà khách nơi có bàn để bày lễ dâng Phật, Thánh, Mẫu tại chùa đang tham quan.

– Trình tự lễ trong chùa:

+ Thắp hương tại đỉnh đặt bên ngoài, hạn chế thắp hương bên trong chùa, vì có thể gây ảnh hưởng đến tượng Phật, pháp khí,…

+ Lễ tại ban Đức Ông: đặt lễ lục cúng, chắp tay hình búp sen, xin phép vào lễ Phật (vì Đức Ông là người kiểm soát tâm thế của kẻ đến chùa, chúng sinh đến với Phật).

+ Phật điện: đặt lễ tại chính giữa Tam bảo, chắp tay hình búp sen, đứng hoặc quỳ, thành tâm cầu khẩn điều an lành. Sau đó đặt lễ ( nếu cần) và lần lượt kính lễ tại Ban Tổ, Nhà Mẫu và Ban Vong.

+Cách sắm lễ và hành lễ trong Chùa. Việc sắm sửa lễ vật khi vào Chùa, có những quy định mà du khách cần tuân thủ theo. Đó là lễ vật bao gồm có lễ chay để dâng lên điện Phật: gồm có lục cúng ( hương, hoa, đăng, trà, quả, thực). Lễ vật chỉ cần có lục cúng mà không cần dâng tiền vàng, đồ mặn, đồ mã,…Không đặt tiền lên ban thờ, đĩa lễ mà bỏ vào hòm công đức ở ban chính, vì đây là tiền chi phí dầu đèn, hương hoa lễ Phật, tu bổ di tích và nuôi chúng tăng. Đồng thời cũng không nên bỏ tiền lên ban Phật, gài vào tay, thân tượng Phật, Thánh vì đó là hành vi bất kính. Lễ là mặn chỉ có thể sắm sửa nếu trong chùa có thờ các vị Thánh, và có ban thờ Mẫu và chỉ dâng tại các ban này thôi. Tuyệt đối không được dâng trên ban thờ Phật, Chư Bồ tát và Thánh Hiền

– Về cầu cúng: tại chùa chỉ cúng những nghi lễ Phật giáo như Phật đản, Vu Lan, Mông sơn thí thực,…Ngoài ra có một số lễ cúng rước vong lên chùa nhằm thỏa mãn đời sống tâm linh cho người dân.

Một số vấn đề nhận biết cho du khách:

– Về pháp khí, gồm có:

+ Cờ Phật: là lá cờ hình chữ nhật, ghép các mảnh khác màu nói lên sự hòa hợp của nhiều cá thể, nhiều dân tộc… trong đạo pháp của Phật giáo. Thường có 10 mảnh tượng trưng cho thập phương chúng sinh, với 4 màu gọi là tứ đại tượng trưng cho hỏa, thủy, địa và phong.

+ Chuông trong chùa: gồm có chuông treo và chuông gõ. Chuông treo: hình ống, có quai treo, thường được trang trí bằng hình rồng uốn mình, chia làm 4 múi, cách nhau một vành đai, có núm gõ, trên chân chuông thường khắc các bài văn có nội dung liên quan đến bản chùa hoặc kinh Phật, gọi là bài Minh chung. Chuông gõ: miệng chuông ngửa lên trên, đế chuông là vành khăn vải, thường đặt cạnh mõ gỗ, để ở trước Phật điện, dành cho việc tụng kinh của các nhà tu hành hoặc khách thập phương.

+ Mõ: có nhiều kích cỡ, gồm loại hình tròn và hình cá, thường làm bằng gỗ, khoét rỗng lòng, dùng để gõ khi tụng kinh.

+ Mộc: là miếng gỗ dùng đánh hiệu lệnh của chùa.

+ Khánh: thường dùng khi rước đồ linh thiêng hay thỉnh khi các vị cao tăng đi lên Phật điện hành lễ hay lên Bảo tòa thuyết pháp.

+ Tích trượng hay còn gọi là Trí trượng ( có nghĩa là người tu hành nương nhờ cây gậy này mà thêm thăng tiến và phát sinh trí tuệ). Trên đầu cây tích trượng có là 4 khâu, 12 vòng tượng trưng cho Tứ Đế ( Phật, Pháp, Tăng, Bảo) và Thập nhị nhân duyên. Ngoài ra còn nhiều pháp khí khác mà các vị tăng trong Mật tông thường dùng khi hành lễ như Linh chử, Kim cương chử,… …

Scroll To Top

Optimized by SEO Ultimate